Chú đại Bi

Chú Đại Bi hay còn được gọi là Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni của Phật Quán Thế Âm. Đây là bài kinh trì chú phổ biến, quen thuộc và được các Phật tử biết tới nhiều nhất. Chú Đại Bi được xem là thần chú quảng đại viên mãn, là thần chú vô ngại đại bi, thần chú cứu khổ cứu nạn. 

Chú Đại Bi Là Gì?

Chú Đại Bi là gì là câu hỏi mà gần như nhiều người không biết vì họ chỉ nhận được chú để đọc chứ không biết về nguồn gốc của nó.

Chú Đại Bi là bài kinh được rút ra từ Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni của Phật Quán Thế Âm, là thần chú Phật Giáo gồm 84 dòng (câu) và 815 chữ của Phật giáo Đại Thừa. Thần chú này lần đầu tiên được dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Trung Quốc ở thế kỷ thứ 7. 

Chú Đại Bi là hình thức bằng lời nói của Đà La Ni, là một kinh điển sử dụng những âm tiết để truyền tải thông điệp siêu việt mạnh mẽ, hiệu quả. Nó tạo ra một trạng thái ý thức đặc biệt và còn được cho là có khả năng giải phóng tất cả chúng sinh đau khổ ở dưới địa ngục và trần thế. 

Thần Chú Đại Bi còn có các tên gọi khác đó là: Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thanh Cảnh Đà La Ni, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni,

Trong kinh Phật được chia thành 2 loại, đó là Phần hiển và Phần Mật, tức phần kinh và phần câu chú.

Phần hiển là phần phô ra ý nghĩa, chân lý trong kinh để tụng niệm hoặc hành giả, từ đó thực hiện tu tập. Điều này được gọi là Tụng Kinh minh Phật chi lý.

Ví dụ, Phần hiển của Chú Đại Bi có câu “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi”. Đây là phần hiển giải thích công năng và vận dụng của 84 câu chú phía sau, đồng thời giúp những người trì tụng chú cho đúng.

Tìm Hiểu Nguồn Gốc Của Chú Đại Bi

Câu chuyện nguồn gốc của Chú Đại Bi cho chúng ta hiểu hơn về tấm lòng từ bi và bác ái vô bờ bến của Bồ Tát Quán Thế Âm đối với tất cả chúng sinh.

Nguồn gốc của Chú Đại Bi

Chú Đại Bi được rút ra từ bài Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni. Thần chú do chính Đức Phật Thích Ca diễn nói tại một pháp hội trước mặt đông đủ những vị Bồ Tát, Trời, Thiên, Thần, Long, các Đại thánh tăng như A-Nan, Ma-Ha Ca-Diếp,...

Bồ Tát thuyết chú xong, cõi đất trời sáu phen biến động, mưa, hoa báu rơi xuống rải rác, 10 phương chư Phật đều vui mừng, thiên ma ngoại dựng lông tóc. Từ đó, thần Chú Đại Bi ra đời và chúng sinh đều được quả chứng. 

Bồ Tát đem lại sự cứu rỗi cho mọi người, ngay cả người đã từng phạm phải tội lỗi không thể tha thứ. Một trong những vị Bồ Tát quan trọng nhất của Phật giáo Đại Thừa là Quan Thế Âm Bồ Tát, người tượng trưng cho lòng vị tha, trắc ẩn của tất cả chư Phật. 

Lý do ra đời của Chú Đại Bi

Trong pháp hội, Bồ tát Quan Thế Âm vì tâm đại bi đối với chúng sinh nên ngài muốn cho con người được an vui, được trừ tất cả các bệnh tật, sống lâu và giàu có. Và ngài cũng đã cho biết lý do ra đời Chú Đại Bi:

Vì thương chúng sinh và muốn mang đến cho chúng sinh những lợi ích an vui, Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai đã thọ trì tâm chú này. Lúc bấy giờ, Bồ Tát chỉ ở ngôi vị sơ địa nên khi nghe xong thần chú liền chứng vượt lên đệ bát địa. Bởi vì vui mừng trước công năng của thần chú, ngài đã phát đại nguyện rằng: Nếu như trong đời vị lai, con có thể làm được những lợi ích an vui cho tất cả chúng sinh với thần chú này, thì xin hãy khiến cho thân con liền sanh ra nghìn mắt và nghìn tay.

Ngay lập tức, ngài đã được toại ý nguyện. Từ đó trở đi, hình ảnh vị Bồ Tát Quán Thế Âm nghìn mắt, nghìn tay trở thành biểu tượng cho khả năng siêu tuyệt của vị Bồ Tát mang trên mình sứ mệnh cứu nhân độ thế.

Và sau đó, kinh Chú Đại Bi đã được một Thiền sư Ấn Độ, là ngài Dà Phạm Đạt Ma du hóa qua bên Trung Quốc vào niên hiệu Khai Nguyên đời Đường dịch, chuyển âm qua tiếng Trung Hoa. Thần chú cũng được Hòa Thượng Thích Thiền Tâm chuyển sang tiếng Việt. Bằng sự linh ứng quan cả thời gian và không gian, Chú Đại Bi được trân trọng trì tụng tại những khóa lễ với nghi thức tụng chính của nhiều quốc gia có truyền thống Phật giáo Đại Thừa như: Triều Tiên, Trung Hoa, Việt Nam,…

Ý Nghĩa Của Thần Chú Đại Bi

Đã có một số người cho rằng tụng kinh Chú Đại Bi thì sẽ không cần hiểu ý nghĩa của nó. Bởi nó là các âm tiết Thánh và chỉ có các vị Phật, các bậc giác ngộ mới có thể lý giải được.

Cũng có một số người nói rằng trì chú, niệm Phật giống như Thiền. Đó có nghĩa là chú tâm vào đối tượng, không đưa tư chủ quan vào để phán xét hay lý giải mà để tự thần chú biểu lộ ý nghĩa của chính nó.

Chính vì vậy, nhiều người trong lúc trì tụng thần Chú Đại Bi không nên tìm hiểu ý nghĩa. Nhưng khi nhập thế và khi mở mắt ra thì phải thông đạt mọi chuyện, mang sự thông đạt đó vô chuyện tu hành của chính mình và chia sẻ ý nghĩa đó tới người khác để họ hiểu được.

Công Năng và Oai Lực Của Thần Chú Đại Bi

Chú Đại bi là thần chú vô ngại đại bi, quảng đại cứu khổ và viên mãn. Trì chú sẽ giúp định tâm hướng tới việc tốt, diệt trừ vô lượng tội và có thêm phước đức. Bài thần chú này cũng thường được dùng trong các khóa lễ và các nghi thức tụng niệm của Phật giáo Đại Thừa.

Có nhiều Cửa Phật môn, vậy nên mỗi người cũng phải trải qua hàng hà sa số kiếp thì mới có thể hiểu rõ cũng như lãnh hội được hết các nội dung phong phú trong bài giảng này. Bên cạnh đó, Phật pháp còn tùy vào căn cơ và duyên nghiệp của mỗi người mới đạt tới sự giác ngộ, từ đó đi lên con đường giải thoát nhờ hành giả, được các vị chư Phật và Bồ Tát, các minh sư dẫn dắt chỉ bảo để đi trên con đường tu tập đúng đắn.

Công năng và oai lực của Chú Đại Bi được xuất phát từ phát nguyện của Quan Thế Âm, ngài mong muốn khi chúng sinh nào tụng trì chú thì sẽ không còn bị đọa vào đường ác mà sinh về cõi Phật. Người đã phạm Thập ác ngũ nghịch và nhiều việc ác khác thì sẽ được tiêu trì khi niệm thần chú. Bởi khi niệm chú này sẽ được 10 phương chư Phật chứng minh, vậy nên tội chướng đều được tiêu diệt và độ trì.

Công năng của Chú Đại Bi đối với người thường

Có nhiều pháp môn tu học khác như: Mật Tông, Tịnh Độ, Thiền Định. Vì vậy, công năng của Chú Đại Bi cũng tùy theo từng môn Tu khác nhau.

Bất kỳ ai khi trì tụng Chú Đại Bi với tất cả tấm lòng thành thì cũng sẽ đạt được điều mong cầu. Trong đó, vì oai lực của chú rộng khắp trong cõi dục giới nên con người dù ở cõi nào thì cũng mong cầu được hạnh phúc, an lạc và có cuộc sống lâu dài như ngài Quan Thế Âm mong muốn.

Cứu Khổ là một trong các công năng được nhiều người biết đến. Vì trong những lúc chúng ta lâm vào hoàn cảnh hoạn nạn, đau thương, cùng khổ, tuyệt vọng và bi đát nhất, chính lúc mà con người ta không còn một lối thoát và chỉ có niềm tin vào Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Nhờ trì tụng thần Chú Đại Bi, nó sẽ giúp con người vượt qua những cảnh khổ cùng và tìm được đến nơi hạnh phúc, an lạc.

Đạo Phật có một giáo lý rằng tất mọi việc xảy trong cuộc đời không phải là điều ngẫu nhiên. Vì vậy, để chúng ta thoát khỏi những cảnh khổ cực đó thì phải hiểu được tại sao mà mình lại bị rơi vào nó, trong khi người khác thì lại không. Tất cả đau thương bất hạnh, nghèo hèn, bệnh hoạn hay gông cùm tù tội trong kiếp này đều có thể là do chính mình tạo ra từ bao kiếp trước và giờ là lúc phải trả nghiệp.

Bộ Chú Đại Bi còn được gọi là Diệt Ác Thú, là một trong các công năng mà một người sẵn đã mang tâm từ bi sẽ không khỏi sinh lòng nghi ngại và phải yêu thương muôn loài. Muốn hiểu sâu được công năng Diệt Ác Thú thì chúng ta phải đặt mình vào hoàn cảnh sống của những người đã sống tại các nơi rừng cao, núi thẳm, nơi đầy rẫy mối nguy như bị hùm beo, rắn rết đe dọa cuộc sống mỗi ngày. Điều này có nghĩa là, không phải cứ niệm Chú Đại Bi là tất cả loại thú sẽ lăn ra chết, mà việc trong tâm chúng ta tâm niệm sẽ phát ra nguồn năng lực mà mọi loài thú ác đều tránh xa.

Công năng của Chú Đại Bi với người tu tập

Đối với những người tu tập, thần Chú Đại Bi giúp những người quyết chí đi trên con đường tu tập thì sẽ có hai công năng quan trọng nhất đó là Siêu tốc Thượng địa và Tùy tâm tự tại.

Công năng Tùy tâm tự tại đối với người tu tập đang gặp khó khăn trong Thiền định do tâm loạn và không an trụ, hơn nữa còn hoang mang, hoảng hốt nên tâm không định để mà hành thiền. Dùng nhiều phương pháp mà không hiệu quả, Chú Đại Bi sẽ là một phương tiện hiệu quả để giải phóng tâm thức khỏi âu lo, vọng động để có thể bước vào cảnh giới thiền một cách rốt ráo và nhanh chóng.

Nhờ vào việc định thiền tốt, công việc tu tập cũng cứ thế mà thăng lên. Từ đó đưa họ thăng tiến nhanh chóng vào nấc thang kế tiếp của quá trình tu tập. Vấn đề chậm hay nhanh còn do duyên nghiệp cũng như ngộ đạo của mỗi người. Như Đức Bồ Tát Quán Thế Âm thì ngài chỉ nghe một lần là đã từ ngôi sơ địa lên ngôi bát địa.

Cũng chính vì vậy, Chú Đại Bi còn được gọi là Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni. Khi niệm chú, Phật tử phải xuất phát từ chí thành, tinh tấn, lễ nghi, tin tưởng vào lòng yêu thương chúng sinh và giữ đúng lễ nghi. Ngoài ta, tin tưởng vào thiền định, khả năng hành giả có thể hành trì và năng lực định tâm để đạt tới an lạc, hạnh phúc trong cuộc sống kiếp này. Đồng thời, từ đó có thể từng bước đến giác ngộ và giải thoát.

Hình Dạng, Tướng Mạo Chú Đại Bi 

Chú Đại Bi được biết đến là thần chú, mật ngân hay chân ngôn của các chư Phật và Bồ Tát. Các mật ngôn này được phái Mật Tông dùng như một mật mã để chuyển âm lời cầu nguyện đến các chư Phật, Bồ Tát.

Hình dáng của Chú Đại Bi

Chúng ta chỉ hình dùng ra được hình dáng của Chú Đại Bi khi biết được năng lực cũng như oai lực đầy đủ. Trong lời thỉnh cầu của Đại Phạm Thiên Vương, đặc tính của Bồ Tát Quan Thế Âm được giải thích rõ ràng rằng: Tâm Đại Từ Bi; Tâm Khiêm Nhường; Tâm Chẳng Nhiễm Trước; Tâm Bình Đẳng; Tâm Cung Kính, Tâm Không Chấp Giữ; Tâm Vô Vi; Tâm không Tạp Loạn; Tâm Không Quán; Tâm Vô Thượng Bồ Đề…

Khi hiểu rõ được những vấn đề này, nó sẽ giúp bạn hình dung ra được hình dáng Chú Đại Bi.

Tướng mạo Chú Đại Bi

Các hành giả đang tu tập nương vào những thần lực của thần Chú Đại Bi như 1 khả năng chuyên chở màu nhiệm để có thể hòa nhập bản thể, chân tâm đạt tới cảnh giới của Niết Bàn. Chân tâm chính là Phật tính được hiện hữu ở trong mỗi con người. Chú Đại bi giống như một con đường tắt để hành trình tu tập có thể hướng tới các nấc thang cao hơn.

Trì tụng Chú Đại Bi sẽ làm vỡ ra các mảng nghiệp chướng, những tội ác đã đeo đẳng con người từ bao đời, nó bùng lên giữa đêm dài tăm tối, giúp mỗi người tỏ ngộ chân tâm. Nhưng mỗi tướng mạo của Chú Đại Bi là một lục lớn về Thiền Quán cho mỗi người tu hành khi hành thiền và đây là mục tiêu vươn đến trong hành trình tu tập ở tương lai.

Tâm không quán nghĩa là hành giả sẵn sàng thêm một bước để giác ngộ, giải thoát. Khi thấy tướng mạo của Chú Đại Bi và mỗi khi trì tụng, hành giả phải phát tâm bồ đề rộng lớn và bình đẳng với chúng sinh. Chính vì vậy, khi đạt đến một mức độ nhất định thì cũng sẽ mau chóng đạt tới kết quả tốt trong Thiền định, tu hành.

Cách Trì Tụng Thần Chú Đại Bi Đúng Pháp

Để trì tụng Chú Đại Bi đúng cách, hiệu nghiệm thì các bạn cần lưu ý một số điều sau: 

● Cần chuẩn bị tinh thần và tư tưởng trước khi trì tụng thần Chú Đại Bi

● Khi trì tụng Chú Đại Bi, các bạn cần chuẩn bị tư tưởng thoải mái và tâm thanh tịnh. Ngoài ra, không để người có mùi hôi, bạn cần tắm gội sạch sẽ và thay đổi y phục nghiêm trang.

Bàn thờ để trì tụng Chú Đại Bi

Các hành giả nên chuẩn bị một phòng riêng yên tĩnh để thờ Bồ Tát ngàn tay, ngàn mắt. Nếu như không có thì có thể dùng bất cứ tượng Bồ Tát Quán Thế Âm nào nhưng không bắt buộc. Trên bàn thờ cần có lư hương để cắm nhang, hoa tươi, trái cây, nước cúng, bạn cũng nên để đèn sáng khi hành lễ trì tụng. 

Cách thức ngồi và lạy khi trì tụng Chú Đại Bi

Mỗi hành giả nên có 1 tọa cụ, đơn giản là 1 cái khăn bông sạch xếp gọn gàng lại làm chỗ tọa thiền. Bạn nên ngồi theo cách thức kiết già, nếu thấy khó quá thì cũng có thể ngồi theo hình thức bán già (tức ngồi xếp bằng, chân phải gác lên chân trái hoặc ngược lại). Đồng thời, bàn tay mặt phải để lên bàn tay trái, lòng bàn tay thì hướng lên trên, hai đầu ngón cái đụng vào nhau.

Lạy là một nghi thức để biểu lộ sự tôn trọng và cung kính. Tuy nhiên, lối lạy cũ theo cách thức người Trung Hoa có rất nhiều điểm bất tiện. Việc đứng lên và quỳ xuống gây ra các tiếng động của cử chỉ, quần áo, điều này làm mất đi sự trang nghiêm. Khi trì tụng Chú Đại Bi, chúng ta có thể lạy theo cách tương đối đơn giản đó là cứ ngồi theo tư thế hành thiền. Đồng thời, khi lạy thì chỉ cần cúi gập đầu về phía trước, giữ tư thế này trong 1 khoảng thời gian đủ để niệm câu thần chú “Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát”, sau đó ngồi thẳng dậy là được. 

Cách thức trì tụng thần Chú Đại Bi

Có nhiều cách tụng kinh Phật nói chung và Chú Đại Bi nói riêng, mỗi người có thể chọn cho mình một cách niệm phù hợp nhất. Đối với người mới bắt đầu tụng hoặc tại những nơi có nhiều người cùng tụng kinh thì bạn nên tụng thành tiếng to rõ ràng. Lúc đó, âm thanh phát ra như vừa nhắc nhở bản thân mình phải chuyên tâm vào bài kinh và đánh thức tâm ý bồ đề của bản thân cũng như những người xung quanh.

Đối với các hành giả đã quen trì niệm thì có thể niệm bằng ý nghĩ, mặc dù không phát ra tiếng nhưng trong đầu họ nhất mực hướng tới bài chú. Thực ra, cách niệm này không dễ, đặc biệt là đối với những người mới tụng hoặc chưa thuộc kinh thì sẽ rất dễ bị mất tập trung. Chỉ có những người tu tập lâu năm và có quá trình dưỡng rèn thì mới có thể đạt được.

Tụng niệm Kinh Chú Đại Bi theo cách nào đi nữa thì quan trọng nhất vẫn là phải có lòng hướng Phật, phải chăm chú vào từng câu để ngộ ra chân lý cuộc đời, ứng chúng vào chính bản thân mình.

Bài Kinh Chú Đại Bi Tiếng Việt

Sau đây là chi tiết các câu thần chú trong thần Chú Đại Bi tiếng Việt:

Nam mô Đại bi Hội Thượng Phật Bồ tát (đọc 3 lần).

Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại bi tâm đà la ni.

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da.

Nam mô a rị da bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa.

Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da, bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà.

Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha.

Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô, kiết mông độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra.

Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô, ma ra hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha.

Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha.

Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha.

Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.

Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.

Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.

Án, tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ ta bà ha. (đọc 3 lần khi trì biến cuối cùng).

Các Câu Trong Chú Đại Bi 

Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần )

Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni

1. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da

2. Nam mô a rị da

3. Bà lô yết đế thước bát ra da

4. Bồ Đề tát đỏa bà da

5. Ma ha tát đỏa bà da

6. Ma ha ca lô ni ca da

7. Án

8. Tát bàn ra phạt duệ

9. Số đát na đát tỏa

10. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da

11. Bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà

12. Nam mô na ra cẩn trì

13. Hê rị, ma ha bàn đa sa mế

14. Tát bà a tha đậu du bằng

15. A thệ dựng

16. Tát bà tát đa (Na ma bà tát đa)

17. Na ma bà dà

18. Ma phạt đạt đậu đát điệt tha

19. Án. A bà lô hê

20. Lô ca đế

21. Ca ra đế

22. Di hê rị

23. Ma ha bồ đề tát đỏa

24. Tát bà tát bà

25. Ma ra ma ra

26. Ma hê ma hê rị đà dựng

27. Cu lô cu lô yết mông

28. Độ lô độ lô phạt xà da đế

29. Ma ha phạt xà da đế

30. Đà ra đà ra

31. Địa rị ni

32. Thất Phật ra da

33. Giá ra giá ra

34. Mạ mạ phạt ma ra

35. Mục đế lệ

36. Y hê di hê

37. Thất na thất na

38  A Ra sâm Phật ra xá lợi

39. Phạt sa phạt sâm

40. Phật ra xá da

41. Hô lô hô lô ma ra

42. Hô lô hô lô hê rị

43. Ta ra ta ra

44. Tất rị tất rị

45. Tô rô tô rô

46. Bồ Đề dạ Bồ Đề dạ

47. Bồ đà dạ bồ đà dạ

48. Di đế rị dạ

49. Na ra cẩn trì

50. Địa rị sắc ni na

51. Ba dạ ma na

52. Ta bà ha

53. Tất đà dạ

54. Ta bà ha

55. Ma ha tất đà dạ

56. Ta bà ha

57. Tất đà du nghệ

58. Thất bàn ra dạ

59. Ta bà ha

60. Na ra cẩn trì

61. Ta bà ha

62. Ma ra na ra

63. Ta bà ha

64. Tất ra tăng a mục khê da

65. Ta bà ha

66. Ta bà ma ha a tất đà dạ

67. Ta bà ha

68. Giả kiết ra a tất đà dạ

69. Ta bà ha

70. Ba đà ma kiết tất đà dạ

71. Ta bà ha

72. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ

73. Ta bà ha

74. Ma bà rị thắng yết ra dạ

75. Ta bà ha

76. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da

77. Nam mô a rị da

78. Bà lô kiết đế

79. Thước bàn ra dạ

80. Ta bà ha

81. Án. Tất điện đô

82. Mạn đà ra

83. Bạt đà gia

84. Ta bà ha.

Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát

(Lặp lại 3 lần từ câu thần Chú 81 - 84 khi quý vị trì biến cuối cùng).

Chắc hẳn các bạn đã có thể định nghĩa Chú Đại Bi là gì một cách rõ ràng và sâu sắc hơn. Để tâm an trú trong tâm hồn và cầu bình an cho bản thân, các bạn cần phải chú tâm tụng kinh thần Chú Đại Bi đúng cách. 

DBK VIỆT NAM, https://dbk.vn/chu-dai-bi.html,
21/15 đường số 17
Thu Đuc, HCM, 700000
Việt Nam
+84919219111